Hiển thị các bài đăng có nhãn ẨM THỰC. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn ẨM THỰC. Hiển thị tất cả bài đăng

Giải nhiệt hiệu quả từ cây thạch đen

CÂY THẠCH ĐEN.( Sương sáo) 
Thạch đen là thức uống giải khát mùa hè, có tác dụng thanh nhiệt giải thử, chữa cảm mạo, cao huyết áp, đái đường, viêm gan cấp, đau xương cơ.
Ảnh Nguồn: Internet

Thạch đen hay còn được gọi Sương sáo, là loài cây hoang dã thân thảo hàng năm, cao khoảng 0,5 m, ít phân nhánh, thường mọc bò lan trên mặt đất, ít khi mọc đứng. Thân có 4 cạnh, có lông, thường màu hơi đỏ hồng ở phần thân già, khi phơi khô chuyển màu đen xám. Lá đơn nguyên mọc đối, đầu lá nhọn, đuôi lá tù, phiến lá hình trứng, mép lá có răng cưa. Hoa màu trắng hoặc phớt hồng, có 2 môi, môi trên thường thành 3 thùy, môi dưới nguyên. Ra hoa mùa thu – đông.

Cắt toàn bộ thân cây, phơi khô đem bảo quản. Mỗi lần sử dụng đêm lá thạch khô rửa sạch, bỏ vào nồi nấu nhừ, để nguội, nắm vắt lấy nước bỏ bã, sau đó lọc lại bằng túi vải sạch. Nước thu được bỏ thêm bột gạo vào quấy đều trên bếp lửa khi nào dung dịch đặc quánh lại thì bắc ra đổ vào chậu, bát hoặc khuôn, để nguội là có thạch ăn. Tỷ lệ lá thạch khô và bột gạo là 1:3 về mặt khối lượng.
Ảnh nguồn: Internet

Ảnh nguồn: Internet

TẠI SAO LẠI CÓ CƠM LAM?

Cơm lam là một cách làm cơm ưu việt, vì gạo được nấu trong ống tre bịt kín vẫn giữ nguyên mùi hương và không mất đi chất dinh dưỡng
Nguồn: Internet
Nói đến cơm lam với chúng ta đã không còn xa lạ, đó là món ăn quen thuộc và là đặc sản của các dân tộc thiểu số niềm núi như Thái, Tày, Nùng, Dao... Tuy nhiên nguồn gốc hay sự ra đời của nó thì không phải ai trong chúng ta cũng đều biết. vậy hãy cũng tôi tìm hiểu sự ra đời của món cơm đặc biệt này.

Theo những lời kể của các già làng thì ngày xưa đồng bào các dân tộc thiểu số sống chủ yếu trong ở rừng, ở trên các định núi cao, cuộc sống du canh du cư theo mùa vụ nên không nơi nào họ ở được đến hai mùa nương dẫy, do đặc điểm của nương dẫy là độ dốc cao nên sau khi canh tác và thu hoạch thì vùng đất đó không còn màu mỡ như trước nữa và đồng bào biết nếu còn canh tác tiếp thêm một mùa vụ nữa thì sẽ không thu hoạch được như mùa trước.

Cứ như thế, hôm nay ở núi này ngày mai lại ở ngọn núi khác, nên cuộc sống của đồng bào rất khó khăn và thiếu thốn đủ thứ, từ việc làm nhà cửa cũng rất tạm bợ, đến đồ dùng trong nhà như xoong, nồi, bát… cực kỳ thiếu thốn vì thế đông bào đã nghĩ ra nhiều cách nấu ăn trong hoàn cảnh không có những vật dụng cần thiết đó, sau khi thu hoạch mùa vụ hạt thóc đã được đâm chày thành hạt gạo và ở nơi núi rừng luôn có sẵn gỗ, cây nứa, cây mét… 
Nguồn: Internet

Và từ đó đồng bào đã nghĩ ra một cách làm cho gạo chín thành cơm mà không cần đến xoong hay nồi là sau khi ngâm gạo thì cho gạo vào trong ống nứa, rồi cho nước vào trong ống, và cuối cùng là cho ống nứa vào đống lửa vừa nướng vừa xoay, dùng ngón tay ấn thấy mềm đến đau là cơm đã chín đến đó hoặc khi thấy mùi thơm của cơm thì cũng lúc cơm đã chín và sau đó chỉ cần bóc vỏ nứa đi là có cơm ăn.

Cách nấu đó vừa nhanh vừa tiện mà cơm lại rất thơm và ngon, được đồng bào duy trì cho đến ngày nay và gọi đó là cơm lam. Từ “lam” là cách nói của đồng bào Thái và nó không phải là danh từ, mà là một động từ theo tiếng Kinh thì có nghĩa là “nướng”. Nguồn gốc ra đời của món cơm lam đặc sản là vậy
Nguồn: Internet
.
Dưới đây là cách làm cơm lam cực ngon xin chia sẻ với mọi người!

Nguyên liệu: 1 ống nứa non vỏ dày, đường kính từ 2-3cm (cây nứa mới ra đc 4-5 lá ở trên ngọn. Vẫn còn mo, ko thể thay thế bằng cây . Do độ ẩm và hương thơm đặc biệt, cây nứa non vào thời điểm này là thích hợp nhất). * nửa cân gạo nếp ngon. *1 que tre vót nhọn dài 5cm,( ai lười vót, trộm tạm đũa của mẹ dùng vậy!!!) * nước sạch, hoặc nước dừa càng tốt. 

Cách làm:  cho gạo vào ống nứa đã chuẩn bị, đầy cách miệng khoảng 5cm.(mẹo nhỏ: cho 1 nắm gạo vào trước sóc đều để ống hết lớp màng lúc bóc vỏ ko bị dính!) -lưu ý sau khi sóc thì cho gạo vào nhưng ko được lắc ống nữa tránh tình trạng gạo nở ra làm nứt ống. Sau đó chúng ta đổ đầy nước vào, dùng lá chuối để nút, như chai rượu được nút bằng lá chuối ý! Dùng dao đục 2 lỗ đối xứng nhau trên miệng ống, để làm sao dùng que tre vót sẵn đó xiên được vào cố định lá chuối ko bị chồi lên khi nướng. Xong, chúng ta để như thế ngâm khoảng 30p-1h đồng hồ mới nướng. * cách nướng: nướng bằng bếp củi có nhiều than, giống như nướng cá vậy, xoay đều ống cho chín đều, nướng từ dưới lên trên. Sau khi nướng được 1 lượt từ dưới lên trên thì phải dùng dao nhọn chọc vào đáy ống thấy nước chảy ra là được. Để đứng như thế và đâm xuống nền như giã gạo, tiếng mường gọi là "tụng ôống tloòng" với mục đích làm cho cơm bên trong quện vào với nhau.chắc cơm lam. Làm như thế khoảng 10 lần. Sau đó, chúng ta nướng lại lần nữa từ trên xuống dưới là được, khi ống cơm lam chín, ta để nguội dùng dao sắc chẻ lớp vỏ bên ngoài đi, vót cẩn thận tránh mạnh tay quá sẽ gọt vào cơm, nhìn xấu. Để cơm thật nguội mới ăn cắt thành từng khúc khoảng 5cm, ko ăn nóng vì cơm lúc đấy vẫn chưa khô, cảm giác nhão. Ăn kèm với muối vừng hoặc chấm với "nậm pịa".
Tổng Hợp

RAU NGÓT RỪNG CÓ TÁC DỤNG GÌ?

Trước đây, bộ đội hành quân trên đường Trường Sơn thường phơi khô để dành, khi nấu canh các loại rau rừng thì cho vào nồi canh mấy ngọn rau sắng thay mì chính. Vì dinh dưỡng rất cao, ngon ngọt đậm đà, rau sắng ăn rất bổ cho những phụ nữ mới sinh và người mới ốm dậy, nó còn được coi là một vị thuốc chữa bệnh đường ruột rất tốt.

Rau ngót rừng - Cây rau sắng (hay còn gọi là cây mì chính, cây rau ngót rừng...), thuộc loại cây thân mộc, mọc tự nhiên trên những vách đá của những vùng núi có độ cao so với mặt nước biển từ 100m trở lên, là loại cây ưa ánh sáng.

Lá, chồi non của cây rau sắng trông xanh thẫm, óng ả, mỡ màng, có hàm lượng protein và acid amin cao hơn hẳn các loại rau khác. Theo phân tích, trong 100g rau sắng có khoảng 6,5 - 8,2g protit, 0,23g lysin, 0,19g methionin, 0,08g tryptophan, 0,25g phenylanalin, 0,45g treonin, 0,22g valin, 0,26g leucin và 0,23g isoleucin, 11,5 mg vitamin C, 0,6 mg caroten ... Như vậy, hàm lượng dinh dưỡng của rau sắng cao gấp nhiều lần rau ngót và đậu ván. Bởi vậy, đây là loại rau khi nấu canh ăn rất ngọt nước. Trước đây, khi bộ đội hành quân trên đường Trường Sơn thường lấy lá phơi khô để dành, khi nấu canh các loại rau rừng thì cho vào nồi canh mấy ngọn rau sắng thay mì chính. Chính vì hàm lượng dinh dưỡng rất cao, ngon ngọt đậm đà, rau sắng ăn rất bổ cho những phụ nữ mới sinh và người mới ốm dậy, nó còn được coi là một vị thuốc chữa bệnh rất tốt.

Rau sắng, bao gồm cả lá non và các đọt thân, thường được sử dụng để nấu canh. Bát canh rau sắng có thể nấu với một trong các nguyên liệu thịt lạc xay, nước luộc gà, xương lợn, tôm nõn giã nhỏ, giò sống, thịt gà, cá rô, cá quả ...v.v. mỗi thứ một vị nhưng đều rất thơm ngon và bổ dưỡng. Tuy nhiên, theo kinh nghiệm của những người sành ăn, chỉ khi nấu canh suông người ta mới cảm nhận hết những giá trị của thứ rau xanh mọc giữa trời, đất, gió và núi này. Đun nồi nước sôi, gia chút muối ăn và nếm thấy vừa vặn thì cho nắm lá rau sắng cùng các đọt thân đã rửa sơ vào nước, chờ nước sôi lại rồi bắc ra ngay, không nên nấu nát quá tuy làm nước ngọt hơn nhưng rau lại bã, ăn mất ngon. Đặc biệt, không nên bỏ thậm chí cả những đọt thân hơi già và không cần dùng mì chính cho món canh này. Chậm rãi nhai từng chiếc lá, từng đọt ngọt để cảm nhận được vị bùi, vị ngọt, mùi hương thoang thoảng mát mát của chất đạm thực vật thật khó tả.

Nhữn cây rau sắng đực cho những chùm rồng rồng, những chùm rồng rồng cùng với hoa, nụ và quả non của cây sắng khi nấu canh ăn còn ngon ngọt hơn cả lá non. Tuy nhiên, những chùm hoa này, cùng với những đọt thân non to mập, không chỉ nấu canh mà hợp hơn cả là xào với thịt bò đã ướp với chút nước mắm và gừng tỏi.

Quả sắng chín ăn ngọt như mật ong nhưng hơi rát lưỡi. Người ta thường tách vỏ để lấy hạt ninh với xương thành món canh vừa ngon ngọt, vừa bổ dưỡng.
Rau sắng trong thi ca

Thi sĩ Tản Đà là một người rất mê rau sắng. Trong Lễ hội chùa Hương xuân Nhâm Tuất, tháng 1 năm 1923 do không đi được lễ hội, ông đã cho đăng bài Rau sắng chùa Hương trên Chuyện thế gian 1:

Muốn ăn rau sắng chùa Hương
Tiền đò ngại tốn con đường ngại xa
Mình đi ta ở lại nhà
Cái dưa thì khú cái cà thì thâm.

Sau hội chùa Hương năm đó, Tản Đà nhận được một bưu kiện gửi từ Phủ Lý. Mở ra là một bó rau sắng chùa Hương còn tươi nguyên, vì bưu phẩm không có tên người gửi, chỉ thấy bài họa đề Đỗ Tang nữ bái tặng:

Kính dâng rau sắng chùa Hương
Tiền đò đỡ tốn con đường đỡ xa
Không đi thời gửi lại nhà
Thay cho dưa khú cùng là cà thâm.

Về việc này làm Tản Đà mất nhiều công điều tra tìm hiểu. Sau mới biết đây là cô gái có tên Đỗ Thị Song Khê,(em nữ sĩ Tương Phố) biệt hiệu là Song Khê, quê huyện Cẩm Khê Hưng Yên, làm việc ở Hà Nam, sau này sang sống và mất trên đất Mỹ. Rồi ông cho đăng bài thơ họa của Đỗ Thị Song Khuê trên Truyện thế gian (tháng 11 năm 1923) cùng với bài thơ cảm ơn của mình nhan đề Nguyễn Khắc Hiếu bái tạ

Mấy lời cảm tạ tri âm
Đồng bang là nghĩa đồng tâm là tình
Đường xa rau vẫn còn xanh
Tấm lòng thơm thảo bát canh ngọt ngào
Yêu nhau xa cách càng yêu
Dẫu rằng suông nhạt càng nhiều chứa chan
Nước non khuất nẻo ngư nhàn
Tạ lòng xin mượn thế gian đưa tình.

Đây là một câu chuyện hoàn toàn có thật, theo thời gian nó thành giai thoại rau sắng chùa Hương, cũng là giai thoại về tình yêu trong tâm khảm của thi nhân với người sơn nữ, đã trở thành lời tôn vinh hết mực món rau đặc biệt này, khiến rau sắng mọc ở đất Phật Hương Sơn được bạn bè xa gần biết đến như một món quà quê nhà bình dị mà đặc sắc.

MĂNG RỪNG NA HANG HƯƠNG VỊ VÙNG CAO

Măng rừng được người dân Na Hang thu hoạch nhiều vào tháng 7 tháng 8 từ những rừng tre, rừng nứa trên những dãy núi cao, măng là thực phẩm ưa thích của người dân bản địa và được chế biến thành những món ăn ngon như măng nhồi thịt, canh măng xương, măng chua nấu cá, măng cuốn hay măng được phơi khô đóng gói gửi về miền xuôi. Là thứ cây mọc hoang dã trong rừng, măng cải thiện bữa ăn hàng ngày, măng giúp người dân có thêm thu nhập, có dịp được đi du lịch tại huyện vùng cao của tỉnh Tuyên Quang này, quý khách nếu may mắn sẽ được thưởng thức món măng rừng tự nhiên đậm vị ngọt của đất, thoảng hương của rừng và măng mang trong nó sự nhọc nhằn chịu thương chịu khó, vượt núi băng rừng của người dân mang về những sản phẩm của thiên nhiên đến với chúng ta 

Mẹo khử độc trong măng
Tuy vậy, trong măng chứa nhiều glucid. Chất này khi kết hợp với vị chua trong dạ dày sẽ tạo ra một loại axit có khả năng gây ngộ độc nếu ăn quá nhiều. Thế nhưng các bà nội trợ đừng quá lo lắng vì độc chất trong măng sẽ bay hơi dễ dàng khi được nấu sôi.

Để loại bỏ những độc tố có trong măng, sau khi xắt lát mỏng nên đem luộc qua với nước sôi trong khoảng 10 phút. Trong quá trình luộc không nên đậy nắp nồi, để các độc chất trong măng theo hơi nước sôi bay ra ngoài. Sau đó, vớt măng ra và rửa lại dưới vòi nước lạnh. Cách làm này không những giúp khử hết độc tố mà còn làm giảm đáng kể vị đắng của măng. Dẫu vậy, cũng có một lưu ý nho nhỏ là với những món hầm hoặc lẩu, do thời gian nấu lâu nên đừng xắt măng quá mỏng, sau nhiều lần luộc sẽ làm măng mềm nhũn, mất đi cái giòn giòn, sần sật hấp dẫn.




Rau bò khai và những công dụng tuyệt vời

Rau bò khai và những công dụng tuyệt vời đối với sức khỏe của mọi người!
Rau bò khai là loại rau được mọc tự nhiên, những người dân vùng cao không tự trồng mà nó mọc tự nhiên ở bìa rừng, khi người dân đi rẫy họ thường tranh thủ hái thêm một gùi rau bò khai về chế biến thành món ăn.

Rau bò khai là đặc sản hòa quyện giữa hương đất rừng và tiết trời chớm xuân ở miền núi. Ngoài giá trị dinh dưỡng, rau bò khai còn được coi là loại rau quý giúp tăng cường sức khỏe. Trong 100gr lá cây bò khai chứa 78,8gr nước; 6gr protein; 7,5gr xơ; 138mgr calci; 40,7mg phospho; 2,6mgr carotene và 60mgr vitamin C.

Rau được lựa chọn kĩ các ngọn tươi ngon, đem vò kĩ, rửa sạch để khử mùi khai rồi nấu canh. Rau bò khai có thể chế biến thành nhiều món hấp dẫn khác nhau như rau bò khai xào tỏi :
– Rau bò khai rửa sạch, để ráo nước
– Đổ dầu vào chảo đun nóng
– Tỏi được dập, băm nhỏ cho vào chảo và đảo đều
– Cho rau bò khai vào chảo và thêm gia vị vừa ăn
Khi xào nhanh và đều tay cho rau chín đều.

Ngoài ra còn có có thể dùng rau bò khai ăn cùng mỳ tôm, luộc chấm mắm.
Hoặc rau bò khai có thể kết hợp cùng rau bò khai thành một món canh thập cẩm như tôm, cá thành món canh tập tàng ngọt mát, thanh tao, bổ dưỡng giúp cơ thể nhanh chóng lấy lại sức lực sau một ngày lao động mệt mỏi
Điều đặc biệt của loại rau rừng này là dù có giá trị dinh dưỡng cao và ngon miệng nhưng sau khi ăn thường có mùi khai.

Theo kinh nghiệm dân gian, đồng bào miền núi thường lấy và sử dụng toàn thân cây bò khai từ thân cành, lá còn tươi hoặc đã phơi khô để sắc nước uống chữa viêm gan do siêu vi thường gặp ở phụ nữ và trẻ em; dùng nước sắc cây bò khai đều đặn để tán sỏi ở người bị sỏi thận.

Thân và lá của rau bò khai có vị hơi đắng, tính bình, đi vào can, thận và đường niệu. Sau khi hái lá và ngọn non, dùng làm rau ăn, phần thân cành có thể băm nhỏ từng đoạn 2 - 3cm, phơi khô dùng dần chữa tê thấp và sốt. Người dùng nếu là phụ nữ và trẻ em có thể đem bò khai đun sôi với nước để uống hạ sốt vào mùa hè hoặc chứng đau tê thấp vào mùa lạnh. Đàn ông có thể đem thân cành để ngâm rượu dùng giúp tăng cường sinh lực. 

Lá và ngọn non của cây bò khai ngoài việc mang tới hương vị thơm ngon và mới lạ cho người thưởng thức còn giúp chữa chứng đái rắt, đái vàng, phù thận. Những người bị mệt mỏi do công việc hoặc sức khỏe kém, chán ăn, ăn không ngon có thể dùng canh nấu hoặc nước sắc cây rau bò khai để cải thiện sức khỏe.